Công ty Lê Bình chuyên máy phun sơnDịch vụ chuyển nhà trọn gói

Sponsors

Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

(Điều 132 - Bộ luật Hình sự 2015)

Danh mục tham chiếu nhanh:

1. Cơ sở xác định tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

2. Khung hình phạt tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

3. Chủ thể chịu trách nhiệm hình sự tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

4. Các tình tiết tăng nặng đối với người phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

5. Các tình tiết giảm nhẹ đối với người phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

6. Hình phạt áp dụng với người dưới 18 tuổi phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

7. Quy định về xóa án tích đối với tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

8. Miễn, giảm, tăng nặng trách nhiệm hình sự, mức án, trách nhiệm thi hành hình phạt tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

1. Cơ sở xác định tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng:

Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết.

* Căn cứ pháp lý: Điều 132 - Bộ luật Hình sự 2015

2. Khung hình phạt tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng:

Hình phạt chính:

- Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm;

b) Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp.

- Phạm tội dẫn đến hậu quả 02 người trở lên chết, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

- Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung sau: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; Cấm cư trú; Quản chế; Tước một số quyền công dân; Tịch thu tài sản; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

* Căn cứ pháp lý: Điều 32, Điều 132 - Bộ luật Hình sự 2015

3. Chủ thể chịu trách nhiệm hình sự tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng:

- Công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch.

- Người từ đủ 16 tuổi trở lên.

* Căn cứ pháp lý: Điều 5, Điều 12, Điều 132 - Bộ luật Hình sự 2015

4. Các tình tiết tăng nặng đối với người phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng:

Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội 02 lần trở lên;

h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;

k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội;

n) Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

Các tình tiết đã được Bộ luật Hình sự 2015 quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

* Căn cứ pháp lý: Điều 52 - Bộ luật Hình sự 2015

5. Các tình tiết giảm nhẹ đối với người phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng:

Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe doạ hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

Khi quyết định hình phạt, Toà án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

* Căn cứ pháp lý: Điều 51 - Bộ luật Hình sự 2015

6. Hình phạt áp dụng với người dưới 18 tuổi phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng:

Người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:

- Cảnh cáo;

- Phạt tiền;

- Cải tạo không giam giữ;

- Tù có thời hạn.

* Căn cứ pháp lý: Điều 91, Điều 98 - Bộ luật Hình sự 2015

7. Quy định về xóa án tích đối với tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

Người bị kết án về tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng đương nhiên được xoá án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án về tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c nêu trên thì thời hạn đương nhiên được xoá án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Người bị kết án về tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng đương nhiên được xoá án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại các điểm a, b, c và d nêu trên.

Trong trường hợp người bị kết án tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được chính quyền địa phương nơi người đó cư trú, cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác đề nghị, thì Toà án quyết định việc xoá án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Hình sự 2015.

* Căn cứ pháp lý: Chương X - Xóa án tích - Bộ luật Hình sự 2015

8. Miễn, giảm, tăng nặng trách nhiệm hình sự, mức án, trách nhiệm thi hành hình phạt tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng:

Trên đây là những quy định pháp luật căn bản nhất đối với tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, người phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, người bị kết án tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Tùy từng trường hợp phạm tội, đối tượng, tính chất, mục đích phạm tội,... sẽ có những quy định pháp luật cụ thể phù hợp miễn, giảm hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Đối với người đã bị tuyên án, tùy từng trường hợp, đối tượng,... pháp luật có những quy định xem xét miễn chấp hành hình phạt, giảm hình phạt đã tuyên hoặc giảm thời hạn chấp hành hình phạt,... Bạn xem thêm những nội dung thuộc Phần thứ nhất - Bộ luật Hình sự 2015 để biết rõ hơn hoặc liên hệ trực tiếp với các luật sư, văn phòng luật sư, công ty luật để được tư vấn chi tiết.

* Căn cứ pháp lý: Phần thứ nhất - Bộ luật Hình sự 2015